Phát triển nhiệt điện than trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam

22/04/2016 - Thứ Sáu - 11:01 Lượt xem: 110

Bài báo trình bày tiềm năng, khả năng khai thác các nguồn năng lượng Việt Nam, dự báo phát triển các nguồn điện đến năm 2030, trong đó tỷ trọng nhiệt điện than trên 50%, phát thải KNK trong năng lượng chiếm tới 85% phát thải quốc gia, trong bối cảnh BĐKH đề nghị giảm nhiệt điện than, nhưng cần tính toán xác định tỷ trọng hợp lý, bằng việc thực hiện Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia.

Một yếu tố quan trọng gây nên hiện tượng nóng lên của Trái đất, làm biến đổi khí hậu (BĐKH) là phát thải khí nhà kính (KNK), mà chủ yếu là CO2, từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người. Phát thải CO2 từ hoạt động đốt nhiên liệu, mà than chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm tới gần 40% tổng phát thải toàn cầu. Trong bối cảnh này nhiều nước đã và đang tìm cách giảm tiêu thụ than, tìm các nguồn sạch hơn thay thế là rất cần thiết. Tuy nhiên có nhiều tổ chức, chuyên gia đưa ra những nhận định, quan điểm hình như là quá khích: than là nguồn năng lượng bẩn, than là nguồn gốc gây chết người hàng loạt, Việt Nam đang đi ngược xu hướng thế giới… Thiết nghĩ chúng ta nên tiến hành nghiên cứu nghiêm túc, đánh giá khách quan, toàn diện để tìm cách sử dụng hợp lý nguồn vàng đen quý giá này. Dưới đây chúng tôi xin góp một vài ý kiến.

Nguồn năng lượng Việt Nam

Để nhìn nhận vai trò của than, nhiệt điện than hiện nay và triển vọng những năm tới, chúng ta cần xem xét tiềm năng, trữ lượng nhiên liệu-năng lượng nói chung của đất nước.

Nguồn thủy điện

Tiềm năng kinh tế-kỹ thuật-môi trường về thuỷ điện được đánh giá khoảng 70-75 tỷ kWh, đến nay chúng ta đã khai thác trên 70% tiềm năng, hiện tại thủy điện đóng góp khoảng 42% lượng điện sản xuất, nhưng dự kiến đến năm 2020 khoảng 20% và năm 2030 còn khoảng 15%. Thực tế thời gian qua chúng ta xây dựng thuỷ điện với quy hoạch chưa tốt, đặc biệt là thuỷ điện vừa và nhỏ, mới chú ý tới hiệu quả phát điện là chính, chưa quan tâm đầy đủ việc sử dụng tổng hợp nguồn nước, chưa chú ý đầy đủ phòng lũ hạ lưu, cũng như quy trình vận hành hệ thống công trình thủy điện bậc thang, thậm chí một số công trình chưa kiểm định đã chạy, thiếu tuân thủ quy định bảo vệ môi trường, trồng rừng thay thế... đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng tới chiến lược phát triển xanh. Thuỷ điện là nguồn năng lượng tái tạo, tuy nhiên ngày nay khai thác thuỷ điện phải thận trọng về môi trường, môi sinh, phát triển bền vững. Hội thuỷ điện quốc tế đã đưa ra quan điểm chỉ xây dựng các “thuỷ điện bền vững”.

Nguồn dầu-khí

Theo đánh giá của ngành dầu-khí, trữ lượng dầu-khí của Việt Nam có thể thu hồi là 3,8-4,2 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng đã được xác minh khoảng 1,05-1,14 tỷ tấn, trong đó khí đốt chiếm trên 60%.

Dự báo khả năng khai thác dầu-khí giai đoạn tới 2030, kể cả đầu tư ra nước ngoài như sau:

Năm

2010

2015

2020

2025

2030

Dầu thô PA cơ sở-tr.tấn

19,86

20,0

20,7

21,7

22,0

Trong đó nội địa-tr.tấn

19,16

17

16,3

16,2

16

Khí đốt-tỷ m3

8

11

17

17

17

Nguồn dầu-khí trong nước, với mức độ hiểu biết hiện nay, rõ ràng rất hạn chế, không thể đảm bảo cho nhu cầu. Các nhà hoạch định chính sách cũng đã nhìn thấy bất cập này; Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cũng đang nỗ lực tìm giải pháp khắc phục, trong đó kể cả đầu tư ra nước ngoài để bổ sung sản lượng dầu. Tuy nhiên, việc đầu tư ra nước ngoài những năm qua cũng gặp nhiều khó khăn.

Gần đây, câu chuyện nhập khí tự nhiên hoá lỏng (LNG) được nhiều người quan tâm, với mục đích bổ sung nguồn nhiên liệu có khả năng thiếu hụt, thay thế than, giảm phát thải KNK, đây là quan điểm, ý đồ rất tích cực. Tuy nhiên cũng cần nghiên cứu tính toán kỹ lưỡng, hiện nay giá LNG cao, chi phí riêng LNG (giá 2014) để sản xuất 1kWh trên 10 Cents.

Nguồn năng lượng tái tạo (NLTT)

Việt Nam được đánh giá có tiềm năng năng NLTT khá phong phú, nhưng đến nay tài liệu, số liệu khảo sát, đo đạc còn thiếu và độ tin cậy thấp, về thể chế đã có quan tâm nhưng chưa đủ để khuyến khích đầu tư, phát triển sử dụng. Việc sử dụng năng lượng mặt trời để đun nước được đánh giá là bắt đầu có hiệu quả. Một số dự án điện gió như ở Ninh Thuận, Bạc Liêu… tuy giá thành điện còn khá cao, nhưng đã phát huy tác dụng.

Theo QHĐ VII dự kiến đưa tỷ lệ NLTT trong sản xuất điện đạt 4,5% vào năm 2020 và 6% vào 2030, như vậy tương ứng phải đạt 16 tỷ kWh (6-7 nghìn MW) và 42-45 tỷ kWh (15-20 nghìn MW). Trong bối cảnh hiện nay, với những tiến bộ công nghệ và yêu cầu của Chiến lược tăng trưởng xanh, tỷ lệ này được đánh giá là còn thấp, cần phải nghiên cứu, nỗ lực hơn từ khảo sát, quy hoạch, lựa chọn công nghệ thích hợp, đầu tư và nội địa hoá dần, để nâng cao hơn tỷ trọng NLTT, đáp ứng nhu cầu phát triển xanh.

Nguồn than

Từ tài liệu quy hoạch ngành than năm 2012 [2] cho thấy, tổng tài nguyên-trữ lượng than của nước ta, tính đến 1-1-2011 là 48,7 tỷ tấn, trong đó than đá 48,4 tỷ, than bùn 0,3 tỷ tấn. Tài nguyên và trữ lượng huy động vào quy hoạch là 7,2 tỷ tấn, trong đó than đá 7 tỷ và than bùn 0,2 tỷ tấn. Nguồn than Đồng bằng Sông Hồng, tuy được đánh giá có tiềm năng lớn, nhưng chưa thể đưa vào quy hoạch.

Theo quy hoạch, sản lượng khai thác than có thể đạt như sau:

Năm 2012: 45-47 tr.tấn; 2015: 55-58 tr.tấn

Năm 2020: 60-65 tr.tấn; 2025: 66-70 tr. tấn; 2030:75 tr.tấn.

Riêng bể than ĐBSH, Quy hoạch than- 2012 chỉ mới ghi: Lựa chọn một số diện tích chứa than có triển vọng, có điều kiện địa chất-mỏ thích hợp để tiến hành thăm dò trong kỳ kế hoạch 2012-15 phục vụ việc đầu tư khai thác thử nghiệm vào cuối kế hoạch; phấn đấu đến 2030 hoàn thành công tác thăm dò phần diện tích chứa than có điều kiện khai thác thuận lợi thuộc vùng Khoái Châu-Tiền Hải; đến 2020 có sản lượng 0,5-1 triệu tấn, 2025: 2 triệu; 2030: khoảng 10 triệu tấn. Vấn đề nhập than chủ yếu cho sản xuất điện mấy năm qua được đề cập khá nhiều, tuy nhiên chưa có giải pháp nào chắc chắn. Theo dự báo của những quy hoạch hiện có, yêu cầu nhập than với số lượng ngày càng lớn, đây là vấn đề không dễ.

Sử dụng năng lượng tiết kiệm&hiệu quả

Là khâu cực kỳ quan trọng, được đánh giá là tạo ra nguồn năng lượng sạch giá rẻ, là quốc sách thâm canh trong năng lượng. Chúng ta đã xây dựng các chính sách khuyến khích, hỗ trợ, thực hiện các chương trình, dự án TK&HQNL, tuy hoạt động khá sôi nổi nhưng tính lan tỏa và hiệu quả còn hạn chế. Chúng ta cần xây dựng các chỉ tiêu pháp lý cho hoạt động này.

Nhận xét

Tiềm năng, trữ lượng các nguồn dầu-khí Việt Nam được đánh giá không dồi dào; Tiềm năng kinh tế-kỹ thuật thủy điện cơ bản đã được sử dụng; Các nguồn NLTT mới bước đầu được đánh giá và khai thác, giá còn cao; Tiềm năng, trữ lượng than được đánh giá tuy không nhiều nhưng là khả thi trong giai đoạn tới, nhu cầu than của Việt Nam tới đây vẫn tăng cao, có nhiều thách thức về thăm dò bổ sung trữ lượng, đặc biệt là than nâu ở Đồng bằng Sông Hồng, nghiên cứu ứng dụng công nghệ than sạch để sử dụng hiệu quả.

Tiêu thụ và dự báo nhu cầu năng lượng Việt Nam

Thực trạng tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam thời gian qua tăng khá nhanh, theo thống kê của Chương trình mục tiêu quốc gia về TK&HQ năng lượng, tiêu thụ năng lượng sơ cấp của Việt Nam năm 2012 là 56,7 tr.TOE, trong đó than chiếm 25,6%, khí đốt 14,5%.

Dự báo nhu cầu năng lượng cuối cùng, theo số liệu QHĐVII [1], phương án cơ sở đến 2030 như sau:

2015

2020

2025

2030

Nhu cầu NLCC-tr.TOE

67,2

92,8

124,1

164,9

Riêng nhu cầu than giai đoạn 2015-2030, theo dự báo từ Quy hoạch ngành than-2012 [2], phương án cơ sở được ghi như sau:.

2015

2020

2025

2030

Nhu cầu than, tr.tấn

56,2

112,4

177,5

220,3

Trong đó cho điện, tr.tấn

33,6

82,8

112,7

181,3

Về sản xuất điện năng, giai đoạn 5 năm gần đây 2010-2014, tăng 1,5 lần, 2014 đạt 144,6 tỷ kWh; trong đó thủy điện chiếm 41%, nhiệt điện than 26%, nhiệt điện khí 31%, điện nhập khẩu 1,4%, còn lại là các nguồn khác 0,6%. Về nhiệt điện than đến hết 2014 có 28 nhà máy với tổng công suất gần 10.000MW.

Theo dự báo từ QHĐ VII [1], với phương án cơ sở, sản xuất điện năm 2020 là 330 tỷ, 2030 là 695 tỷ kWh. Năm 2020 tổng công suất hệ thống là 75.000 MW, trong đó nhiệt điện than 36.000 MW (đưa thêm 30 nhà máy), chiếm 48% hệ thống; năm 2030, tổng công suất hệ thống là 146.800MW, trong đó nhiệt điện than 75.748 MW, chiếm 51,6%, thủy điện giảm chỉ còn 15,7%, NLTT tăng lên khoảng 9,4%. Số liệu chi tiết hơn được trình bày trong bảng 1.

Bảng 1. Dự báo công suất điện theo loại nguồn đến 2030, đv. MW/%

2020

2030

CS-MW

Tỷ lệ %

CS-MW

Tỷ lệ %

Tổng

75.000

100

146.800

100

Thủy điện+Tích năng

19.125

25,5

23.047

15,7

NĐ than

36.000

48.0

75.748

51,6

NĐ khí-dầu

12.375

16,5

17.322

11.8

TĐN&NLTT

4.200

5,6

13799

9,4

Điện hạt nhân

1000

1,3

10.000

6,6

Điện nhập khẩu

2325

3,1

7.193

4,9

Tổng điện SX-tỷ kWh

330

695

Pmax-MW

52.000

110.000

Nguồn - QHĐVII, 2011

Biến đổi khí hậu và phát thải khí nhà kính

Theo dự báo của quốc tế, Việt Nam là một trong năm nước có nguy cơ tổn thương nặng nề do BĐKH, trái đất nóng lên, thời tiết cực đoan, nước biển dâng, gây xâm thực mặn, ngập một số vùng ven biển và đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long, thiệt hại lớn về kinh tế và sinh kế dân cư. Nguyên nhân quan trọng nhất đã được xác định là lượng phát thải KNK toàn cầu tăng nhanh do hoạt động của con người.

Việt Nam là nước đang phát triển, nhưng đã ký và phê chuẩn sớm Công ước khung về BĐKH của Liên Hợp quốc từ 1992 và nhiều nghị định, văn bản khác, cam kết cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ hành tinh. Trong thời gian qua, Việt Nam đã thực hiện, đóng góp nhiều nội dung về giảm thiểu, thích ứng với BĐKH. Trong đó có công tác kiểm kê KNK quốc gia, nội dung quan trọng của Thông báo quốc gia về BĐKH trình Ban Thư ký Công ước.

Vừa qua Việt Nam đã thực hiện kiểm kê KNK quốc gia và từng lĩnh vực cho năm 2010 và ước tính cho giai đoạn đến 2030. Phát thải KNK năm 2010 và ước tính phát thải các năm 2020 và 2030, trong đó lĩnh vực năng lượng chiếm tỷ trọng theo các năm tương ứng là 62; 82; 85%, chi tiết được trình bày trong bảng 2.

Bảng 2. Phát thải KNK năm 2010 và ước tính phát thải các năm 2020 và 2030

Đơn vị: nghìn tấn CO2 tđ

Lĩnh vực\ năm

2010

2020

2030

Năng lượng

141.171

381.128

648.479

Nông nghiệp

88.355

100.578

109.342

LULUCF

-19.219

-42.542

-45.302

Chất thải

15.352

26.581

48.008

Tổng

226.659

465.925

760.527

Nguồn: BC KK KNK năm 2010 và DA 2014, Bộ TN&MT

Riêng lĩnh vực năng lượng, kết quả kiểm kê KNK năm 2010 [5] cho các hoạt động chi tiết được trình bày trong bảng 3. Trong đó hoạt động đốt nhiên liệu chiếm tới 88%, trong hoạt động đốt nhiêu liệu thì công nghiệp năng lượng, mà chủ yếu là đốt than ở các nhà máy điện chiếm tới gần 30% .

Bảng 3. Phát thải KNK trong lĩnh vực năng lượng năm 2010

Đơn vị: nghìn tấn CO

Nguồn phát thải

Tổng

Tỷ lệ-%

Đốt nhiên liệu

124.275,0

88,03

- Công nghiệp NL

41.057,9

29,08

- CNSX&XD

38.077,6

26,97

- GTVT

31.817,9

22,54

- TM&DV

3.314,2

2,35

- Dân dụng

7.097,6

5.03

- NN-LN-Thủy sản

1.630,8

1,16

- Các ngành khác không sử dụng năng lượng

1.279,0

0,91

Phát tán

16.895,9

11,97

- Nhiên liệu rắn

2.243,1

1,59

- Dầu và khí

14.652,7

10,38

Tổng cộng

141.170,8

100

Nguồn: BC kiêm kê KNK năm 2010 và DA 2014, Bộ TN&MT

Xu thế phát triển nhiệt điện than trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Qua số liệu quy hoạch giới thiệu trên cho thấy, nhu cầu năng lượng Việt Nam nói chung và nhu cầu điện nói riêng tăng nhanh. Các nguồn năng lượng của Việt Nam không giàu, BĐKH là thách thức lớn. QHĐ VII (2011) có dự báo nhu cầu lớn, các nguồn điện tăng nhanh, đặc biệt nhiệt điện than dự kiến đưa vào ồ ạt. Từ kết quả một số nghiên cứu trước [6], ngay từ khi thẩm định, nhiều chuyên gia đã cảnh báo quy hoạch khó thực hiện, nhất là yêu cầu than và nhiệt điện than. Chỉ sau vài năm thực hiện, thực tế đã thấy bất cập, quy hoạch đang được hiệu chỉnh; hiện đang được tổ chức lấy ý kiến; tuy nhiên được biết việc hiệu chỉnh vẫn tiến hành theo phương thức cũ, các phân ngành điện, than, dầu-khí, NLTT vẫn tiến hành riêng lẻ, chưa thực hiện cân bằng năng lượng sơ cấp, như Luật Điện lực 2013 [3] đã quy định.

Việc xác định các nguồn năng lượng nói chung và nguồn điện tham gia hệ thống điện nói riêng (kể cả nguồn hạt nhân), cần xuất phát từ nhu cầu năng lượng cần thiết cho phát triển kinh tế-xã hội được dự báo một cách khoa học, khả năng các nguồn trong nước và nhập ngoại, khả năng kinh tế của quốc gia, công nghệ, môi trường, nghiên cứu tính toán quy hoạch một cách căn cơ, toàn diện, so sánh tính cạnh tranh kinh tế-kỹ thuật-môi trường, để xác định cơ cấu các nguồn hợp lý nhất cho từng giai đoạn phát triển.

Như đã phân tích trong [9], hiện nay giá dầu, khí đang giảm sâu và thay đổi khó lường, tuy nhiên trong tình huống ổn định, than vẫn là nguồn nhiên liệu rẻ, thường được cung cấp tại chỗ, bản thân hòn than không bẩn mà chính con người cần tìm công nghệ sạch để sử dụng, bởi vậy than đang và sẽ còn là nguồn quan trọng cung cấp năng lượng cho nhiều nước, đặc biệt đối với các nước đang phát triển.

Với giá cả các nguồn năng lượng ở Việt Nam hiện nay, có thể tính gần đúng giá thành tương đối sản xuất điện theo loại nguồn như sau: nếu nhiệt điện than là 1 thì, thủy điện là 0,5-0.8; nhiệt điện khí 1,1-1,2; điện gió 2,2-2,5; điện mặt trời 6-7. Như vậy tới đây Việt Nam còn phải phát triển nhiệt điện than không phải là ngoại lệ, không thể cho rằng Việt Nam đi ngược xu thế thế giới. Trong những thập niên tới, với bối cảnh BĐKH đã hiện hữu, với dự báo nhu cầu năng lượng sát đúng, sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm, giá NLTT có xu thế giảm mạnh; việc sử dụng than, đặc biệt cho nhiệt điện chắc chắn sẽ giảm nhiều, nhưng cần nghiên cứu xác định tỷ trọng hợp lý nhiệt điện than, cũng như các nguồn khác, thông qua bài toán tối ưu phát triển hệ thống năng lượng [4,6]. Đồng thời xây dựng và ban hành các chỉ tiêu cho phép đối với nhà máy nhiệt điện về công nghệ, phát thải CO2, khí độc, bụi, địa điểm xây dựng…

Hiện nay có một số kiến nghị, giai đoạn đến 2020-30 nên giảm khoảng 30% nhiệt điện than, thay thế vào là NLTT, phát huy tiết kiệm năng lượng, đại thể là có lý, nhưng thiếu những tính toán toàn diện, cụ thể, chưa thuyết phục.

Kiến nghị

Rà soát, đánh giá chính xác hơn tiềm năng, trữ lượng các dạng năng lượng, dự báo nhu cầu năng lượng, nhu cầu điện với độ tin cậy cao, tiến hành xây dựng cân bằng năng lượng sơ cấp (Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia), theo đúng Luật Điện lực 2013, làm cơ sở khoa học và pháp lý cho quy hoạch phát triển các phân ngành điện, than, dầu-khí, NLTT; từ đó sẽ xác định được cơ cấu tối ưu sử dụng các nguồn năng lượng, cũng như cơ cấu nguồn điện cho cả giai đoạn quy hoạch.

Tháng 12/2015

Tài liệu tham khảo chính

1. QHĐ VII, 2011.

2. QH phát triển ngành than đến 2020-2025, 2012.

3. Luật Điện lực, 2013.

4. Bùi Huy Phùng-Phương pháp tính toán tối ưu phát triển bền vững HTNL, NXBKHKT, Hà Nội, 2011.

5. BC KK KNK quốc gia 2010, Bộ TN&MT.

6. Nghiên cứu phương án tổng thể khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng VN, BC-ĐT thuộc CT Năng lượng giai đoạn 2001-05, CNĐT, Bùi Huy Phùng - Viện KH&CN VN, HN 2005.

7. Bùi Huy Phùng- Quy hoạch năng lượng tổng thể là cơ sở khoa học và pháp lý cho quy hoạch các phân ngành năng lượng, TCNLVN, 6-2012

8. Tài liệu HT: Than&Nhiệt điện than: Những điều chưa biết, HN, 9-2015.

9. Bùi Huy Phùng-Xu thế phát triển NĐ than trong bối cảnh BĐKH trên thế giới, TCNL, 12-2015.

Nguồn: Nangluongvietnam.vn

Ý kiến đánh giá

Gửi ý kiến của bạn

Thời tiết


Giá vàng

Loại Mua Bán
SJC 37.400 38.400
Nhẫn ép 35.400 36.400
ĐVT: tr.đ/lượng

Ngoại tệ

USD21,140
GBP33,796
HKD2,735
CHF23,189
JPY214.96
AUD20,199
CAD20,491
SGD17,065
EUR28,642
NZD17,814
Bat Thái Lan679
Krone Nauy3,546

Đăng ký nhận tin qua Email

Nhập chính xác email của bạn để nhận được bản tin từ chúng tôi !

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 27

Hôm nay : 2,248

Hôm qua :1,768

Tất cả : 1,632,720