MỎ ĐẤT HIẾM ĐÔNG PAO TAM ĐƯỜNG LAI CHÂU- NHỮNG DỰ ĐỊNH ĐẦU TƯ SẢN XUẤT CHƯA THÀNH CÔNG – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

17/07/2020 - Thứ Sáu - 15:10 Lượt xem: 47

Mỏ đất hiếm Đông Pao Tam Đường Lai Châu được đánh giá là một trong những mỏ có trữ lượng đất hiếm lớn nhất Việt Nam, ngoài đất hiếm còn có các khoáng sản khác đi kèm có trữ lượng lớn như Barit và fluorit. Từ những năm 80 của thế kỷ trước đã có nhiều dự định đầu tư khai thác và chế biến đất hiếm Đông Pao quy mô công nghiệp, nhưng vì nhiều lý do từ đó cho đến nay những dự định đó vẫn chưa thành thành hiện thực.

1- Một vài nét về Tài nguyên, trữ lượng đất hiếm  mỏ Đông Pao, Tam Đường, Lai Châu

 Khu mỏ Đất Hiếm Đông Pao có trên 60 thân quặng trong diện tích  11,2 km2, Mỏ đã được đầu tư điều tra, tìm kiếm, thăm dò trong nhiều thời kỳ với quy mô khác nhau, cụ thể :

-Năm 1986: Đoàn địa chất của Bộ Cơ khí luyện kim đã tiến hành thăm dò nâng cấp một phần thân quặng F3, diện tích 0,1 km2 bằng công trình giếng có độ sâu 30m. Kết quả tính trữ lượng cấp C1+C2:  Tổng ô xít đất hiếm TR2O3: 93.370 tấn (trong đó cấp C1: 58.060 tấn);Fluorit CaF2: 208.820 tấn; Barit BaSO4: 505.700 tấn.

-Năm 1989-1992: Liên đoàn Địa chất 10 (nay là Liên đoàn địa chất xạhiếm) tiến hành đánh giá thân quặng 7, tính tài nguyên cấp C2 + P1 cho các thành phần quặng gồm: Tổng ô xít đất hiếmTR2O3: khoảng 590 600 tấn, CaF2: khoảng1322 000 tấn, BaSO4: 1 420.000 tấn.

-Năm 1995 - 1996: Liên đoàn Địa chất 10 (nay là Liên đoàn địa chất xạ hiếm) đã tìm kiếm - đánh giá 2 thân quặng 9 và 16. Kết quả tính được tài nguyên cấp C2 + P1 cho các thành phần quặng gồm: TR2O3: khoảng 165500 tấn, CaF2:Khoảng 884000 tấn, BaSO4:khoảng 2447700 tấn.

-Năm 2000-2002: Tổ chức JOGMEC (Tập đoàn Khoáng sản và Dầu khí Nhật Bản)  đã thăm dò tỷ mỉ thân quặng F3 đến độ sâu 120m và đã xác định được trữ lượng thân quặng F3 là 3.175.250 tấn quặng với hàm lượng tổng ôxit đất hiếm là 7,06%, hàm lượng CaF2 12,8%, BaSO4 34,79%.Trong thời gian này  JOGMEC cũng đã tính toán phương án khai thác sơ bộ, thiết kế khai trường với trữ lượng quặng khai thác dự kiến: 110.000 tấn quặng/năm.

-Năm 2010:Công ty CP Đất hiếm Lai Châu VIMICO được Bộ TNMT cho phép thăm dò bổ sung trữ lượng đất hiếm toàn vùng mỏ , Cty đã hợp đồng với  Liên đoàn Địa chất Xạ hiếm thăm dò bổ sung mỏ đất hiếm - fluorit - barit  Đông Pao  bao gồm 6 thân quặng F7, F9, F10, F14, F16, F17. Tính trữ lượng cấp 121+122 tổng 6 thân  quặng là tổng ô xit Đất hiếm TR2O3:khoảng 2.158.400 tấn, BaSO4:12590.000 tấn, CaF2: 9.176.000 tấn.; ngoài ra cấp tài  nguyên về đất hiếm -  có trên 2,5 triệu tấn tổng ô xít đất hiếm. Kết quả thăm dò đã được Hội đồng trữ lượng phê duyệt.

Qua số liệu trên cho thấy ,trữ lượng đất hiếm mỏ Đông pao rất lớn,có thể khai thác và chế biến được trong nhiều năm.Tuy nhiên mỏ này chủ yếu là đất hiếm nhóm nhẹ (La,Ce).

2- Về tình hình đầu tư khai thác và chế biến quặng đất hiếm Đông Pao các năm trước đây

-Từ những năm 80 của thế kỷ trước nhà nước và chính phủ Việt nam có chủ trương tập trung thăm dò khai thác và chế biến đất hiếm để phát triển thành  một ngành kinh tế quan trọng nên đã thành lập Liên Hiệp Đất Hiếm Việt Nam. Nhưng do thị trường sử dụng đất hiếm thời kỳ này hạn chế, nên không đầu tư sản xuất quy mô công nghiệp được, vì thế  Liên Hiệp đất hiếm phải thu hẹp và chuyển thành công ty đất hiếm trực thuộc Tổng công ty khoáng sản Việt Nam (nay là Tổng công ty khoáng sản -TKV)-  Tại thời điểm đó,Công ty đất hiếm được cấp giấy phép khai thác thân quặng F3.

- Năm 1996 TCTy Khoáng sản Việt Nam (trực tiếp là Công ty đất hiếm) đã cùng đối tác Hàn quốc (công ty LG Metal và Kopess) lập đề án thành lập liên doanh khai thác và chế biến đất hiếm Đông Pao. Đề án sau khi báo cáo Bộ chính trị đã được Chính phủ cho phép và bộ KHĐT cấp phép thành lập công ty liên doanh. Giấy phép khai thác mỏ  được cấp cho liên doanh trong 10 năm (từ 1996 đến 2006).Trong thời gian này do khủng khoảng kinh tế (1997-1998) giá các sản phẩm từ  đất hiếm trên thị trường thế giới giảm mạnh, nên liên doanh không thể đầu tư  sản xuất được(phía Hàn Quốc xin rút khỏi liên doanh).

- Sau khi giải thể công ty liên doanh, TCTy khoáng sản đã sát nhập công ty đất hiếm vào công ty khoáng sản 3 là đơn vị thành viên của TCTy (công ty đất hiếm chuyển  thành xí nghiệp đất hiếm Lai Châu). Trong thời gian này chủ yếu  khai thác Fluorit từ thân quặng F1 và tiếp tục kêu gọi các đối tác trong và ngoài  nước hợp tác đầu tư.

- Từ năm 2006 các sản phẩm chế biến từ quặng đất hiếm ngày càng có giá trị, Công ty khoáng sản 3 đã lập dự án đầu tư khai thác và chế biến quy mô hợp lý (khai thác và tuyển đến tinh quặng đất hiếm ,tinh quặng Barit và Fluorit) và làm thủ tục xin gia hạn giấy phép quản lý và khai thác thân quặng F3 nhưng vì nhiều lý do nên giấy phép quản lý và khai thác mỏ không được cấp lại.

- Tháng 8/2008, được sự đồng ý của Chính phủ và Tỉnh Lai Châu, Công ty Cổ phần Đất hiếm Lai Châu-VIMICO (Lavreco) được thành lập (Tổng công ty khoáng sản TKV giữ cổ phần chi phối  55%, số cổ phần còn lại là  của các tổ chức pháp nhân và thể nhân  khác) với vốn điều lệ 350 tỷ. Cuối năm 2008, Công ty cổ phần Đất hiếm Lai châu – Vimico đã tiến hành lập đề án xin thăm dò toàn vùng mỏ đất hiếm Đông Pao và xin cấp phép khai thác thân quặng F3. Nhưng không được cấp phép giấy phép khai thác nên không tổ chức sản xuất được (theo yêu cầu của chính phủ và bộ Tài nguyên môi trường chỉ được cấp phép khai thác thân quặng F3 sau khi có kết quả thăm dò toàn vùng mỏ và có  dự án đầu tư công nghệ chế biến sâu đất hiếm). Trước tình hình đó bắt buộc  công ty phải chi phí gần 60 tỷ VNĐ để thăm dò toàn vùng mỏ, kết quả thăm dò đã được Hội đồng trữ lượng phê duyệt từ  tháng 11/2012.

3- Về chuẩn bị  đầu tư khai thác và chế biến quặng đất hiếm Đông Pao

Công nghiệp sản xuất chế biến các sản phẩm từ quặng đất hiếm ở Việt Nam nói chung và đất hiếm mỏ Đông Pao nói riêng đến nay vẫn chưa phát triển (mới được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của một số viện nghiên cứu như viện KH&CN Mỏ Luyện kim, viện công nghệ xạ hiếm) và sản xuất thử một lượng rất nhỏ các sản phẩm từ đất hiếm như Hydroxit đất hiếm 15 tấn, ceri kỹ thuật(95% CeO2)- 3 tấn. Bằng lò điện hồ quang 50KVA Viện CN xạ hiếm sản xuất - 30 tấn hợp kim FeSiRe có hàm lượng 18-30 % TREO cho biến tính gang và thép , viện KH&CN mỏ luyện kim-10 tấn hợp kim FeSiRe 18-30 % TREO cho trục cán thépv.v. Các năm qua ở Việt Nam đã có một số nhà máy chế biến kim loại đất hiếm do nước ngoài đầu tư 100% vốn, nhưng chủ yếu là nhập nguyên liệu từ nước ngoài, chưa có cơ sở nào chế biến sâu các sản phấm đất hiếm (các loại bột ô xít đất hiếm riêng rẽ, các kim loại đất hiếm) quy mô công nghiệp từ quặng đất hiếm khai thác tại Việt Nam.Hiện nay Công ty CP Tập đoàn Thái Dương đã đầu tư và đưa nhà máy tuyển quặng đất hiếm Yên Phú Yên Bái vào sản xuất với quy mô 12000 tấn TQ/năm.

            Là một Tổng công ty chuyên chế biến các sản phẩm kim loại từ khoáng sản kim loại màu và khoáng sản quý hiếm, nên từ năm 2006 TCTy khoáng sản VINNACOMIN đã chủ động tìm kiếm các đối tác nước ngoài để hợp tác đầu tư chế biến đất hiếm. Tháng 3 năm 2007 TCTy Khoáng sản VINACOMIN và công ty Toyota Tsusho (công ty thành viên của Tập Đoàn TOYOTA Nhật bản) đã ký bản ghi nhớ  để thành lập công ty Liên doanh khai thác và chế biến đất hiếm Đông Pao.Sau này theo yêu cầu của phỉa Nhật Bản, công ty Thương mại Sojitz Nhật Bản cùng xin tham gia vào  công ty Liên Doanh. Năm 2009  các bên đối tác đã thành lập xong bản nghiên cứu khả thi cho dự án khai thác và chế biến đất hiếm từ thân quặng F3. Nhưng dự án chưa được cấp trên xem xét phê duyệt vì chưa thực hiện đề án thăm dò bổ sung trữ lương toàn vùng mỏ.

Ngày 31/10/2010, Thủ tướng chính phủ Việt Nam đã ký Tuyên bố chung với Thủ tướng Nhật Bản, trong đó có nội dung về việc Việt Nam và Nhật Bản là đối tác hợp tác trong phát triển ngành công nghiệp đất hiếm của Việt Nam.

Ngày 31/10/2011 giữa hai Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản đã ký thỏa thuận hợp tác về đất hiếm, trong đó thống nhất cho các đối tác Nhật Bản cùng công ty CP đất hiếm Lai Châu đầu tư liên doanh khai thác và chế biến sâu đất hiếm thân quặng F3 và F7 mỏ đất hiếm Tam Đường, Lai Châu.Theo đề nghị của Tập đoàn CN Than Khoáng sản, Bộ Công Thương cũng đã điều chỉnh quy hoạch "quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác và sử dụng đất hiếm" (Quyết định số 1652/QĐ-BCT ngày 04/4/2012 ). Theo quy hoạch điều chỉnh  từ mỏ đất hiếm Đông Pao, sau 2017 sẽ sản xuất 30.000 tấn các loại ô xit đất hiếm riêng rẽ.

Ngay sau khi có Quyết định phê duyệt trữ lượng toàn khu mỏ đất hiếm Đông Pao, Công ty CP đất hiếm Lavreco đã tiến hành lập “Dự án đầu tư xây dựng công trình khai thác, chế biến đất hiếm mỏ Đông Pao - Tam Đường - Lai Châu” với quy mô công suất sản phẩm (các loại ô xít đất hiếm riêng rẽ) 30.000 tấn/năm ô xít đất hiếm  (trong đó hợp tác với Nhật Bản là 10.000 tấn/năm ô xít đất hiếm riêng rẽ) được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2012-2017) công suất là 20.000 tấn/năm ô xít đất hiếm riêng rẽ; Giai đoạn 2 (sau năm 2017) công suất nâng lên là 30.000 tấn/năm ô xít đất hiếm riêng rẽ. Dự án đã được Lavreco lập xong và các cấp có thẩm quyền  thẩm định và phê duyệt. Dự án gồm 03 dự án thành phần:

- Dự án đầu tư khai thác, chế biến quặng đất hiếm Đông Pao - Lai Châu.

- Dự án Nhà máy Thủy luyện đất hiếm Đông Pao - Lai Châu.

- Dự án Nhà máy Tách chiết đất hiếm Đông Pao - Hải Phòng.

Sản phẩm của dự án là các loại ô xít đất  hiếm riêng rẽ như có hàm lượng 99-99,5% như: ô xít lan tan (La2O3), ô xít ceri(CeO2), ô xit Niodi (Nd2O3), Chất đánh bóng (LaCePr)2/3 CO3 và oxit hỗn hợp (PrNd)Ox

Song song với việc lập Dự án đầu tư, để có cơ sở cho việc xin cấp phép khai thác mỏ, Công ty CP đất hiếm Đông Pao cũng đã tiến hành lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường và Báo cáo phân tích an toàn bức xạ của Dự án theo quy định. Tháng 12/2012 hai Báo cáo này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định, phê duyệt.

Đất hiếm Đông Pao là một mỏ đất hiếm được nhiều các cấp quan tâm:Chính phủ Việt Nam đã thỏa thuận với chính phủ Nhật Bản về cho phép công ty CP Đất hiếm Lai Châu hợp tác với các đối tác Nhật Bản để đầu tư khai thác chế biến đất hiếm từ thân quặng F3 và F7, Chính phủ cũng đã đồng ý về nguyên tắc cấp quyền quản lý toàn vùng mỏ cho công ty CP đất hiếm Đông Pao, Bộ TNMT;  Bộ Công Thương, Bộ KHCN cũng đã thẩm định và phê duyệt dự án,báo cáo ĐTM v.v; Tỉnh Lai Châu đã cấp phép đầu tư dự án.Đến 30/12/2014 công ty CP đất hiếm Lai Châu mới được cấp giấy phép khai thác mỏ (kéo dài thời gian chờ cấp giấy phép đã bỏ lỡ nhiểu cơ hội đầu tư sản xuất).

4- Thực trạng về thực hiện dự án  khai thác và chế biến sâu quặng đất hiếm Đông Pao hiện nay

Công ty cổ phần đất hiếm Lai Châu Vimico thành lập từ 8/2008 với mục đích góp phần phát triển ngành công nghiệp đất hiếm Việt Nam theo hướng hợp tác với nước ngoài đầu tư khai thác quặng đất hiếm mỏ Đông Pao để chế biến và tiêu thụ các loại ô xít đất hiếm riêng rẽ. Tuy nhiên đã gần mười một năm trôi qua, nhưng dự định đó vẫn chưa thực hiện được, có rất nhiều lý do, nhưng những lý do cơ bản có thể là:

- Về thị trường :

+Các năm gần đây trên thế giới mỗi năm tiêu thụ khoảng120000- 140000 tấn oxit đất hiếm, nguồn cung cấp chủ yếu là từ thị trườngTrung Quốc (chiếm 95%). Từ năm 2006 do nhu cầu tiêu thụ tăng nên giá đất hiếm có xu hướng tăng dần. Đặc biệt từ năm 2009-2011 khi Trung Quốc hạn chế xuất khẩu đất hiếm thì giá đất hiếm tăng nhiều lần. Để bớt phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, từ năm 2012 một số nước như Mỹ, Ấn Độ, Inđônêxia v.v đã tổ chức sản xuất đất hiếm từ các mỏ đã ngừng sản xuất một thời gian do giá thấp, khi lượng cung dồi dào thì giá đất hiếm lại giảm dần.Đất hiếm Đông Pao là chủ yếu là đất hiếm nhóm nhẹ nên không có ưu thế nhiều trên thị trường.

+Trước đây khi giá đất hiếm ở mức cao (2009-2010) các đối tác phía Nhật Bản muốn hợp tác đầu tư khai thác và chế biến đất hiếm ngay từ thân quặng F3 với quy mô khoảng 7.000 tấn các loại ôxit đất hiếm riêng rẽ/năm. Tháng 3/2010 phía đối tác Nhật Bản đã lập báo cáo nghiên cứu khả thi với tổng mức đầu tư dự kiến 100 triệu USD, tuy nhiên dự án không thể triển khai vì không được cấp quyền khai thác mỏ.

+Từ 2012 khi giá đất hiếm có xu hướng giảm (do nhiều nước đã tái sản xuất đất hiếm)phía Nhật Bản đề nghị chỉ sản xuất khoảng 3500 tấn/năm vì có khả năng khó cạnh tranh với đất hiếm từ các nguồn khác. Đến nay vì một số lý do trong đó có lý do thị trường phía Nhật Bản đề nghị tạm dừng đầu tư đểnghiên cứu tiếp và chờ thêm cơ hội.Ngày 13/01/2016,Văn phòng Chính phủ có Văn bản số 308/VPCP-KTN cho phép Công ty được dừng hợp tác với Nhật Bản.

- Về công nghệ:

+ Từ trước tới nay ở Việt Nam chưa sản xuất chế biến sâu đất hiếm quy mô công nghiệp.Tổng công ty khoáng sản TKV trực tiếp là công ty CP Đất hiếm Lai Châu) mong muốn hợp tác với các đối tác Nhật Bản đề cùng đầu tư khai thác và chế biến đất hiếm Đông Pao theo công nghệ tiên tiến thân thiện với môi trường. Trong qua trình hợp tác chuẩn bị đầu tư, phía Nhật Bản đã tích cực hợp tác với nhiều cơ quan nghiên cứu trong nước để nghiên cứu lựa chọn công nghệ sản xuất đất hiếm từ mỏ Đông Pao như nghiên cứu địa chất và khoáng vật, đánh giá trữ lượng quặng (2009), đã đưa một hệ thống tuyển thí nghiệm di động đến mỏ để xác định tính khả tuyển quặng đất hiếm và đã khẳng định phối kết hợp tuyển từ và tuyển nổi có thể làm giàu quặng đất hiếm từ thân quặng F3 tử 9% lên 46% và thực thu 70%, về luyện đất hiếm (bao gồm nung, ngâm chiết và tách dung môi) được thí nghiệm tại HRL Testing tại Úc váo năm 2009 và tại Sumitomo heavy Industies năm 2010. Trên cơ sở các nghiên cứu thí nghiệm  đã lập được báo cáo nghiên cứu khả thi.

 +Để khẳng định chắc chắn về công nghệ chế biến đất hiếm, phía Nhật Bản đã đầu tư một hệ thống pilot thí nghiệm (tuyển, nung, tách chiết đất hiếm) và lắp đặt tại Viện xạ hiếm Việt Nam để thí nghiệm và thử nghiệm. Một lượng mẫu lớn (15 tấn) đã được lấy từ thân quặng F3 về thử nghiệm.

+Một số Viện nghiên cứu trong nước trong thời gian gần đây cũng đã đầu tư nghiên cứu chế biến đất hiếm như  viện CN Xạ Hiếm Việt Nam, viện KH&CN Mỏ Luyện kim, các nghiên cứu mới đề cập đến công nghệ tuyển quặng đất hiếm từ thân quặng F3 và F7, các nghiên cứu từ phía Việt Nam cho kết quả thấp hơn các kết quả nghiên cứu của Nhật Bản.

+Gần đây viện CN Xạ Hiếm đã nghiên cứu và áp dụng ở quy mô pilot với công suất 25 tấn TREO/năm và hàng chục tấn phân bón vi lượng đất hiếm/năm, dung dịch khoáng đất hiếm dùng xử lý nước hồ nuôi thủy sản, bột mài bóng thủy tinh, chất tẩy màu khử bọt thủy tinh từ quặng đất hiếm basnasite Đông Pao.

-Môi trường: 

Mỏ đất hiếm Lai Châu có chứa nguyên tố phóng xạ như Thô ri và urani.Theo phân tích hóa do công ty kỹ thuật phát triển Mitsui  thực hiện năm 2009 xác định hàm lượng Th là 72ppm và 104 ppm trong quặng, 1700ppm và 880ppm trong tinh quặng. Để đảm bảo giới hạn liều phóng xạ cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6866, trong các báo cáo khả thi cũng như trong các báo cáo ĐTM cũng đã đề cập đến nguy cơ các nguồn phơi nhiễm phóng xạ từ mỏ, nhà máy tuyển, nhà máy luyện v.vv và đề ra các giải pháp khắc phục. Tuy nhiên chi phí bảo vệ môi trường rât lớn, nếu giá đất hiếm thấp thì dự án sẽ không có hiệu quả.

-Về chính sách:Tiến cấp quyền khai thác khoáng sản đối với mỏ đất hiếm Đông Pao được điều chỉnh tăng từ năm 2015 đến 2018:Theo Quyết định số 1109/QĐ-BTNMT ngày 13/5/2015 của Bộ TN&MT tiền cấp quyền khai thác khoáng sản mỏ đất hiếm Đông Pao là 111.6tỷđồng (hàng năm phải nộp là 7, 4 tỷ đồng).Đến năm 2018 tăng tiền phải nộp lên 36,7 tỷ đồng do tính thêm khoáng sản barit và fluorit. Tăng mức nộp dẫn đến công ty gặp không ít khó khăn.vì các dự án sản xuất vẫn chưa triển khai.

+ Thuế xuất khẩu:Thuế xuất khẩu quặng/tinh quặng đất hiếm tăng lên đến 30% (theo Nghị định 125/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017) là cao, vì sản phẩm đất hiếm chủ yếu là xuất khẩu.

5-Kết luận

Việt Nam có nguồn quặng đất hiếm tương đối lớn (riêng mỏ đất hiếm Đông Pao có trữ lượng và tài nguyên trên 4,5 triệu tấn tổng ô xit đất hiếm), với trữ lượng đó có thể sản xuất được nhiều năm để cung cấp cho thị trường thế giới (toàn thế giới hiện nay mỗi năm tiêu thụ dưới 150.000 tấn ô xit đât hiếm).

Chủ trương  đầu tư phát triển khai thác, chế biến quặng đât hiếm thành một ngành công nghiệp đã có từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được, có thể là nhiều lý do nhưng trong đó có những lý do cơ bản chưa có công nghệ chế biến để đầu tư các cơ sở chế biến đất hiếm có quy mô công nghiệp, do thị trường tiêu thụ, do giá đất hiếm trên thế giới luôn biến động, do vấn đề môi trường đặc biệt là an toàn bức xạ (phóng xạ) trong hoạt động khai thác và chế biến quặng đất hiếm Đông Pao đang được các cấp quản lý nhà nước và dư luận quan tâm, lo ngại và do chính sách về các loại thuế phí chưa phù hợp chưa khuyến kích đối với khoáng sản đất hiếm v.v.

Hiện nay tình hình tiêu thụ đất hiếm trên thế giới đang nóng lên do cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, giá các sản phẩm từ đất hiếm có khả năng tăng. Đây là cơ hội để đầu tư sản xuất đất hiếm ở Việt Nam nói chung và ở mỏ đất hiếm Đông Pao nói riêng./.

 

Tài liệu tham khảo:

1-Dự án đầu tư khai thác-chế biến đất hiếm thân quặng F3 mỏ Đông Pao Tam Đường Lai Châu-Công ty CP đất hiếm Lai Châu  VIMICO-2009.

2- Báo cáo nghiên cứu khả thi của thân quặng F3 Đông Pao Lai Châu CHXHCNVN- Toyota Tsusho corporation &Sojitz corporation -3/2010.

3-  ThS Nguyễn Thị Hồng Hà : Nghiên cứu công nghệ tuyển đất hiếm thân quặng F7 mỏ đất hiếm Đông Pao Lai Châu-  Tạp chi thông tin KHCN mỏ- số 4/2010.

4-. Nguyễn Đức Quý, Nguyễn Văn Hạnh. Về phát triển đất hiếm Việt Nam. Hội thảo Khoa học tư vấn phát triển công nghiệp đất hiếm Việt Nam, 10-2013.

Nguồn: Nguyễn Minh Đường/Hội Tuyển khoáng Việt Nam 

Ý kiến đánh giá

Gửi ý kiến của bạn

Các bài viết khác

Thời tiết


Giá vàng

Loại Mua Bán
SJC 37.400 38.400
Nhẫn ép 35.400 36.400
ĐVT: tr.đ/lượng

Ngoại tệ

USD21,140
GBP33,796
HKD2,735
CHF23,189
JPY214.96
AUD20,199
CAD20,491
SGD17,065
EUR28,642
NZD17,814
Bat Thái Lan679
Krone Nauy3,546

Đăng ký nhận tin qua Email

Nhập chính xác email của bạn để nhận được bản tin từ chúng tôi !

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 475

Hôm nay : 5,687

Hôm qua :9,915

Tất cả : 1,633,383