DANH NHÂN VIỆT NAM TUỔI DẬU

27/01/2017 - Thứ Sáu - 22:22 Lượt xem: 124

Thái Thuận (1441...?). Ông sinh năm Tân Dậu, quê ở Bắc Ninh, là nhà thơ, danh sĩ thời Lê Sơ, bút hiệu Lục Khê, Lã Đường. Ông đỗ tiến sĩ năm 1475, làm quan ở Hàn lâm Viện và Tham Chánh sứ Hải Dương. Ông có đức cao vọng trọng, lại nổi tiếng văn chương. Ông trở thành 1 trong 28 thành viên của Hội thơ Tao Đàn trứ danh (Tao Đàn Nhị thập bát tú) do Vua Lê Thánh Tông sáng lập. Ông là thi sĩ xuất chúng của làng thơ Việt Nam đương thời, tác giả tập Lã Đường di thảo với 264 bài thơ về nhiều chủ đề, ngôn ngữ khoáng đạt mà độc đáo, được người đời truyền tụng.

Đoàn Thị Điểm –Hồng Hà Nữ sĩ (1705-1746). Bà sinh năm Ất Dậu, quê ở Hải Dương, nữ sĩ thời Lê Mạt, bút hiệu Hồng Hà. Xinh đẹp, tài hoa, ham học hỏi, lại thuộc dòng dõi quý tộc và nổi tiếng văn thơ trong vùng, được đón vào triều làm Giáo thụ, dạy dỗ cung tần. Năm 1739, đất nước loạn lạc, Bà trở về quê, kết hôn với tiến sĩ Nguyễn Kiều, cùng chồng dạy học, hoạt động văn hóa nghệ thuật. Bà để lại nhiều bài thơ tràn trề tình cảm, da diết, u hoài và tập Truyền kỳ tân phả đầy ấn tượng. Bản dịch song thất lục bát tác phẩm Chinh phụ ngâm của Bà (từ nguyên tác của Đặng Trần Côn) được đánh giá là công trình dịch thuật từ thơ chữ Hán ra thơ Nôm hoàn hảo nhất trong nền thi ca nước ta thời xưa. 
Nguyễn Gia Thiều –Ôn Như Hầu (1741-1789). Ông sinh năm Tân Dậu, quê ở Bắc Ninh, là nhà thơ, nhà văn hóa, danh thần thời Lê Mạt, bút hiệu Tân Trai, Hy Tôn Tử, Sưu Nhân, Tân Thị Viện Tử. Linh hoạt, bản lĩnh, văn võ song toàn, có họ hàng thân thích với nhà Trịnh (là cháu ngoại chúa Trịnh Cương), Ông được triều đình trọng dụng. Ông tiến nhanh trên đường binh nghiệp, năm 30 tuổi thăng tới Tổng binh, thống quản toàn bộ quân đội, đắc lực giúp việc dẹp loạn, an dân. Ông am hiểu và nổi tiếng cả về văn, triết, sử lẫn âm nhạc, hội họa, kiến trúc. Về nhạc, soạn các bản Sơn trung âm, Sở từ điệu trầm hùng mà réo rắt. Về họa, vẽ nên bức tranh hoành tráng Tống Sơn đồ. Về kiến trúc, được chúa Trịnh tin giao cho việc trang hoàng phủ Chúa và điều khiển xây tháp chùa Thiên Tích. Về thơ ca, ông là tác giả của nhiều bài nổi tiếng, được truyền tụng nhiều nhất là bản Cung oán ngâm khúc và các tập thơ: Tứ Trai thi tập (tập hợp thơ của Ông và ba con trai), Tây Hồ thi tập.
Ngô Thì Chí (1753-1788). Ông sinh năm Quý Dậu, quê ở Thanh Trì, Hà Nội, là nhà lịch sử văn hóa, danh sĩ thời Lê Mạt, bút hiệu Uyên Mật; là con của Ngô Thì Sĩ và em của Ngô Thì Nhậm. Nhiều nghị lực, trọng truyền thống, giỏi văn chương, đỗ Hương tiến, làm quan đến chức Thiêm thư Bình chương tỉnh sự, tận tụy phục vụ triều Lê. Ông dành nhiều thời gian dạy học, sáng tác thơ ca và nghiên cứu văn hóa, để lại các tác phẩm giá trị: Quốc sử tiệp lục, học thi Phi Thi tập, Học Phi Văn tập, Hoàng Lê nhất thống chí (7 chương đầu).
Nguyễn Du (1765-1820). Ông sinh năm Ất Dậu, quê ở huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, là nhà thơ, danh sĩ thời Lê Mạt-Nguyễn Sơ, tự là Tố Như, bút hiệu Thanh Hiên. Ông là con của Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, Ông sống trong tư dinh người anh cả là Thượng thư Nguyễn Khản. Những năm đất nước nhiều biến động, Ông phải nương náu ở quê người anh rể là Đoàn Nguyễn Tuấn ở Thái Bình. Khi Vua Gia Long lên ngôi, Ông được triệu ra làm quan, lần lượt là Tri huyện, Tri phủ rồi Đông Các Đại Học sĩ, Cần Chánh Điện Đại học sĩ rồi thăng  tới Hữu Tham tri Bộ Lễ. Ông đã là Chánh sứ đi sứ Trung Quốc năm 1813. Ông là tác giả của các tác phẩm: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục… Đặc biệt Truyện Kiều (Đoạn trường Tân thanh) với thể thơ lục bát, ngôn ngữ tài hoa, tinh tế và thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Ông được coi là Đại Thi hào Việt Nam.
Trịnh Hoài Đức (1765-1825). Ông sinh năm Ất Dậu, quê ở Đồng Nai, là nhà thơ, nhà sử học, danh thần thời Nguyễn Sơ, bút hiệu Cấn Trai. Văn võ song toàn, phong thái mạnh mẽ, năm 1788 Ông thi đỗ rồi ra làm quan, được triều đình trọng dụng, phong tới Thượng thư Bộ Lễ kiêm Bộ Hình, Phó Tổng tài Quốc sử quán. Ông là nhân vật chủ chốt của Hội thơ Bình Dương thi xã nổi tiếng ở Lục Tỉnh xưa với nhiều thi phẩm bình dị, dân dã, phóng khoáng, được nhiều người truyền tụng. Ông còn để lại các công trình địa lý, lịch sử, văn thơ giá trị: Gia Định thành thông chí, Cấn Trai thi tập, Bắc sứ thi tập.
Đặng Huy Trứ (1825-1874). Ông sinh năm Ất Dậu, quê ở Thừa Thiên-Huế, là danh sĩ đời Thiệu Trị-Tự Đức, bút hiệu Hoàng Trung. Từ bé đã nổi tiếng thần đồng, lại khảng khái, giàu khí tiết. Năm 1847, vượt qua 2 kỳ thi Hương và thi Hội đến kỳ thi Đình, bài của Ông bị phạm húy. Ông bị cách tuột với bản án: suốt đời không được đi thi (chung thân bất đắc ứng thí). Mãi 8 năm sau, nhờ một vị quan lớn biết tài Ông can thiệp, Ông đi thi lại và đỗ tiến sĩ. trở thành một vị quan thanh liêm, chính trực, được thăng tới chức Ngự sử. Từng đi sứ Trung Quốc, Thái Lan, Triều Tiên. Năm 1865, ông đi Hương Cảng  và đã đem về một cuốn sách kỹ thuật của người Phương Tây viết về máy hơi nước do chính ông biên dịch sang chữ Hán. Năm 1867, trong chuyến đi Trung Quốc Ông đã mua được cho triều đình 239 khẩu "quá sơn pháo". Năm 1871, ông giữ chức Bang biện quân vụ Lạng – Bằng - Ninh – Thái. Cuối năm 1873 ông lui quân về căn cứ Đồn Vàng – Hưng Hóa dưới quyền Thống thống quân vụ Hoàng Kế Viêm, mưu tính kháng chiến lâu dài nhưng việc không thành vì vua Tự Đức đã ký Hòa ước Giáp Tuất (1874). Năm 1886, ông làm Biện lý Bộ Hộ, trực tiếp phụ trách Ty Bình chuẩn tại Hà Nội để chuyên lo việc kinh tế, tài chính cho triều đình.

 

Đặng Huy Trứ có công đầu trong việc du nhập, truyền bá nghệ thuật nhiếp ảnh vào Việt Nam; được coi là ông tổ ngành nhiếp ảnh Việt Nam. Ông còn là tác giả của nhiều công trình văn thơ, lịch sử, triết luận quy mô, trong dó có cuốn Từ thụ yếu quy dày 900 trang gồm 4 tập nhằm chống thói hối lộ - tham nhũng chốn quan trường.

 

Nguyễn Đức Nguyên-Hoài Thanh (1909-1982). Ông sinh năm Kỷ Dậu, quê ở Nghệ An, nhà văn hóa, nhà phê bình văn học, bút danh Hoài Thanh. Thủa nhỏ học ở Vinh, Huế… sau đó làm việc và dạy học tại Huế, nhiệt tình nghiên cứu văn hóa dân tộc. Sau năm 1945, tham gia kháng chiến chống Pháp, Mỹ, đóng góp xuất sắc cho lĩnh vực văn học nghệ thuật cách mạng. Với ngòi bút đầy mạnh mẽ, hiện đại, sáng tạo, sắc sảo, ông được đánh giá là nhà phê bình văn học nổi bật nhất ở Việt Nam và là một nhà nghiên cứu văn hóa cần mẫn, kỳ cựu, thể hiện qua nhiều tác phẩm: Văn chương và hành động, Thi nhân Việt Nam, Phê bình và tiểu luận, Toàn tập Hoài Thanh… Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000.
Bùi Đình Diệm-Quang Dũng (1921-1988). Ông sinh năm Tân Dậu, quê ở Đan Phượng, Hà Nội, là nhà thơ, bút danh Quang Dũng. Năng động, nhiệt thành yêu nước, hăng hái tham gia cách mạng tháng Tám rồi vào bộ đội chiến đấu khắp chiến trường Bắc Bộ và say mê sáng tác thi ca. Bút pháp tài hoa và khí tiết nam nhi cùng tình cảm sâu đậm với quê hương đã giúp ông tạo nên nhiều bài thơ nổi tiếng, tràn đầy tinh thần lạc quan, lãng mạn mà hùng tráng: Tây Tiến, Đôi bờ, Đường trăng, Đôi mắt người Sơn Tây… Ông còn là họa sĩ và làm biên tập viên Nhà xuất bản Văn học. Ông để lại các tác phẩm: Mây đầu ô, Nhà đồi, Tuyển tập Quang Dũng. Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2001.
Lưu Hữu Phước-Huỳnh Minh Siêng (1921-1989). Ông sinh năm Tân Dậu, quê ở Cần Thơ, nhạc sĩ, viện sĩ. Thủa nhỏ học ở Cần Thơ, Sài Gòn, năm 1940 Ông ra Hà Nội học tại Đại học Y Dược. Trong thời kỳ 1940-1945, Ông sáng tác nhiều bài hát ca ngợi tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam, cổ vũ lòng yêu nước trong thanh niên: Hội nghị Diên Hồng, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hồn tử sĩ, Tiếng gọi thanh niên… Sau năm 1945, Ông làm Tổng thư ký Ủy ban kháng chiến Nam Bộ… Thời kỳ 1959-1964, Ông giữ chức Vụ trưởng Vụ Âm nhạc, Tổng thư ký Hội nhạc sĩ Việt Nam. Năm 1965 vào chiến trường Nam Bộ, viết ca khúc Giải phóng Miền Nam nổi tiếng, giữ chức Bộ trưởng Văn hóa - Thông tin trong Chính Phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (1969). Sau năm 1975, làm Viện trưởng Viện Âm nhạc và năm 1986 được Viện Hàn lâm Nghệ thuật Cộng hòa Dân chủ Đức phong Viện sĩ Thông tấn. Ông là nhạc sĩ hàng đầu của dòng nhạc hùng tráng với những sáng tác có giá trị âm điệu, ngôn từ rất cao, diễn tả xuất sắc hoài bão của người Việt Nam. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.

 

Nguồn: Trần Văn Trạch (st và biên soạn)/vampro.vn

Ý kiến đánh giá

Gửi ý kiến của bạn

Thời tiết


Giá vàng

Loại Mua Bán
SJC 37.400 38.400
Nhẫn ép 35.400 36.400
ĐVT: tr.đ/lượng

Ngoại tệ

USD21,140
GBP33,796
HKD2,735
CHF23,189
JPY214.96
AUD20,199
CAD20,491
SGD17,065
EUR28,642
NZD17,814
Bat Thái Lan679
Krone Nauy3,546

Đăng ký nhận tin qua Email

Nhập chính xác email của bạn để nhận được bản tin từ chúng tôi !

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 105

Hôm nay : 255

Hôm qua :7,034

Tất cả : 1,632,415