Việt Nam có khoảng 600 triệu tấn khoáng sản titan ven biển với thành phần bao gồm các khoáng vật nặng có giá trị như ilmenite, rutile, zircon, monazite … Trong quá trình tuyển tách các khoáng vật nặng bằng phương pháp trọng lực và từ tính thì không thể thiếu nguồn nước. Lượng nước cung cấp cho quá trình tuyển tách tùy thuộc vào lượng nguyên liệu đầu vào, hệ thống thiết bị nhưng cần chủ động nguồn nước tại chổ và đảm bảo một số tiêu chuẩn như pH, độ mặn, tổng chất rắn lơ lửng (TSS), độ đục, độ nhớt … Một trong những phương pháp được áp dụng tại nhà máy chế biến sâu titan Hoàng Long là sử dụng hệ thống xử lý nước thải tuần hoàn với công suất 300m3/h và thể tích bể chứa 1200m3. Nước thải được xử lý bằng poly aluminium chloride (PAC) 2,0% và polyacrylamide (PAM) 0,1% với tỷ lệ thể tích 5:3. Hệ thống nước tuần hoàn giúp nâng cao hiệu suất và chất lượng sản phẩm trong quá trình tuyển tách.
Ngày nay, trên thế giới đã có nhiều nhà máy chế biến khoáng sản sử dụng bể lắng dạng tấm nghiêng để lắng đọng bùn mịn. Bể lắng dạng tấm nghiêng có hiệu suất lắng đọng cấp hạt siêu mịn cao hơn và diện tích lắp đặt thấp hơn so với bể cô đặc truyền thống. Bùn thải xưởng tuyển rửa của Công ty Nhôm Đắk Nông chứa đến 70% cấp hạt -0,02 mm và đang được lắng đọng bằng bể cô đặc truyền thống. Nhưng bể cô đặc tại nhà máy làm việc kém hiệu quả, các chỉ số công nghệ thấp hơn so với thiết kế và thường xuyên bị quá tải. Báo cáo này trình bày nguyên nhân bể cô đặc tại nhà máy làm việc kém hiệu quả và kết quả nghiên cứu lắng đọng bùn thải bằng bể lắng dạng tấm nghiêng có công suất 15 – 20 m3/h. Sau quá trình lắng đọng bằng bể lắng dạng tấm nghiêng ở quy mô bán công nghiệp đã thu được nước trong có mật độ pha rắn dưới 50 mg/l và nồng độ cặn lắng đạt trên 35%, đồng thời chi phí keo tụ thấp hơn so với thực tế sản xuất. Các kết quả sơ bộ trên đã mở ra khả năng áp dụng bể lắng lamella vào thực tế lắng đọng bùn thải xưởng tuyển rửa cho các Công ty Nhôm thuộc TKV.
Báo cáo trình bày giải pháp chuyển đổi công nghệ sản xuất từ thủy luyện toàn phần sang công nghệ bán thủy luyện tại Nhà máy kẽm điện phân Thái Nguyên – Công ty CP Kim loại màu Thái Nguyên - Vimico. Công nghệ hiện tại tuy đạt công suất 12.500 tấn/năm nhưng còn tồn tại nhiều hạn chế như phát sinh lượng lớn bùn thủy luyện chứa kẽm, hiệu suất thu hồi chưa cao (91,7%) và không tận thu được các kim loại quý đi kèm. Giải pháp công nghệ bán thủy luyện giúp nâng cao thực thu kẽm lên 94%, đồng thời, thu hồi thêm Ag, Pb... mà không làm phát sinh bùn thải. Bên cạnh đó, công nghệ xử lý khí SO₂ bằng bột kẽm oxit được áp dụng nhằm giảm thiểu ô nhiễm và tận dụng nguồn nguyên liệu nội sinh, mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường cao.
Bài báo trình bày cô đọng các kết quả ứng dụng KH&CN tiên tiến, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Chi nhánh Mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai – Vimico – một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực khai thác và chế biến quặng đồng trực thuộc Tổng Công ty Khoáng sản TKV. Để đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả trong các hoạt động của đơn vị, Chi nhánh đã tích cực triển khai hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN tiên tiến, đổi mới sáng tạo chuyển đổi số, nhờ đó, hiệu quả hoạt động sản xuất được nâng cao: sản lượng khai thác, tuyển quặng đồng hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch, tỉ lệ thu hồi đồng trong khai thác, tuyển quặng được cải thiện.
Công ty Cổ phần Kim loại màu Thái Nguyên (VIMICO) và Công ty Cổ phần Tư vấn Công nghệ và thiết bị Mỏ - Luyện kim (GAVAQ) phối hợp cùng Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ lọc hóa dầu thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ và thiết bị thu hồi kim loại nặng Ag, Cd, Zn, Pb từ nguồn khoáng sản thứ sinh của quá trình sản xuất kẽm kim loại từ quặng tinh kẽm trong nước”. Đề tài đã nghiên cứu thành công trong phòng thí nghiệm và đã tiến hành tuyển thử nghiệm mẫu bã thải sắt trên dây chuyền tuyển quy mô pilot của VIMICO. Kết quả nghiên cứu đã xác lập được công nghệ tuyển thu nhận quặng tinh chứa Ag với hệ số làm giàu bạc lên gấp hơn 6,0 lần, từ 610,38 g Ag/t lên 3.703,05 g Ag/t. Với kết quả này hai Công ty đã cộng tác, phối hợp thiết kế, chế tạo và lắp đặt dây chuyền công nghệ tuyển thu hồi quặng tinh bạc quy mô công nghiệp tại Nhà máy kẽm điện phân Thái Nguyên
β-DCP (β-dicalcium pyrophosphate – β-Ca2P2O7) là nguyên liệu chính cung cấp P2O5 cho quá trình sản xuất sứ xương. β-DCP được tạo thành từ quá trình nung DCP (dicalcium phosphate - CaHPO4.2H2O) ở khoảng 700-900°C. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hình thành sản phẩm β-DCP cần thiết để ứng dụng cho ngành gốm sứ. Nghiên cứu này trình bày cụ thể hơn ảnh hưởng của nhiệt độ nung, thời gian lưu tới sự tạo thành β-DCP từ DCP trong lò gas. Từ khóa: DCP, β-DCP, sứ xương
Với sự mở rộng nhanh chóng của ngành công nghiệp xe năng lượng mới và bán dẫn, nhu cầu về tài nguyên lithi (Li) và gali (Ga) đã tăng lên đáng kể. Than và các chất thải rắn từ than, đặc biệt là đá thải than (CG), tro bay than (CFA), và xỉ khí hóa than (CGS), rất dồi dào và giàu lithi cùng gali. Do đó, chúng đại diện cho một nguồn tiềm năng để thu hồi các nguyên tố quan trọng này
Khoáng sản quý hiếm xuất hiện trong nhiều loại trầm tích khác nhau trên khắp Trái đất. Nhu cầu sử dụng chúng đã tăng lên nhanh chóng theo thời gian, nhưng việc khai thác chúng vẫn còn khá hạn chế.
Nhân loại đã và đang đương đầu với thách thức thiếu nguồn năng lượng, các nguồn thủy năng, dầu, khí đang dần cạn kiệt, nguồn than trữ lượng khá hơn thì phải hạn chế sử dụng do phát thải khí nhà kính. Với Việt Nam chúng ta đang tìm cách chuyển dịch cơ cấu các nguồn năng lượng, trong đó giải pháp hợp lý được đa số thừa nhận là phối hợp năng lượng tái tạo với điện hạt nhân.
Trong nhiều năm qua, Chính phủ, các bộ, ban, ngành, các doanh nghiệp, địa phương có các nhà máy nhiệt điện than hết sức quan tâm tới việc giải phóng tro xỉ (xỉ than) và tro bay (khói bụi) tỏa ra môi trường. Tính đến thời điểm hiện tại, chúng ta đã có khoảng 40 nhà máy nhiệt điện than trong cả nước. Hàng năm, đã thải ra trên chục triệu tấn tro xỉ và hàng triệu tấn tro bay; dự báo tới năm 2020 và tới năm 2030, khi các nhà máy nhiệt điện than được phát triển nhiều lên thì lượng tro xỉ, tro bay sẽ tăng lên tới 20 triệu, rồi 30 triệu tấn/năm, sẽ gây ra ô nhiễm môi trường hết sức nghiêm trọng.
Mới đây, một công ty của Canada đã ký hợp đồng trị giá 700 ngàn USD với Cơ quan hàng không vũ trụ nhằm khai thác mỏ trong vũ trụ
Từ nhiều năm gần đây, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhân loại. Cộng đồng quốc tế đã có nhiều hoạt động cổ vũ và yêu cầu các nước tìm cách giảm thiểu và thích ứng với BĐKH, với mục đích là bảo vệ hành tinh và nhân loại phát triển bền vững. Một yếu tố quan trọng gây nên hiện tượng nóng lên của trái đất, làm BĐKH là phát thải khí nhà kính, (KNK) mà chủ yếu là CO2, từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người. Trong đó phát thải CO2 chủ yếu phát sinh từ hoạt động đốt nhiên liệu, mà than chiếm tỷ trọng cao nhất.
Ứng dụng, tình hình khai thác, chế biến graphit trên thế giới và Việt Nam
Bài viết giới thiệu Sự cần thiết phải huy động nguồn nội lực và lợi thế so sánh của TNKS để phát triển KT - XH của quốc gia; đặc điểm của quy trình phát triển TNKS trong nền kinh tế thị trường và sản xuất hàng hoá; trình tự, nội dung của giai đoạn đầu tư và công tác đánh giá tác động môi trường của dự án phát triển khoáng sản. Bài viết còn đề cập đến những thành tựu, tồn tại của ngành công nghiệp khoáng sản Việt Nam và nêu một số khuyến nghị.
Bài viết này sẽ giới thiệu nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc Khoa Vật liệu xây dựng, Đại học Xây dựng về sử dụng phụ gia khoáng hoạt tính tro trấu và tro bay ở Việt Nam trong chế tạo bê tông chất lượng siêu cao.