Năm 2011, bộ phim hành động nổi tiếng của Kinh đô Điện ảnh Hollywood có nhan đề “Choose” (Lựa chọn) ra mắt khán giả. Trong bản công chiếu tại Việt Nam, nhan đề phim được dịch là “Người được chọn”. Xem bộ phim này (mà thông điệp của nó là mỗi người được chỉ định phải lựa chọn một trong hai thứ quý nhất của đời mình) và liên hệ với Ngành Tuyển khoáng; tôi thấy đúng là nhiều người đã là những “Người được chọn” cho ngành Tuyển khoáng chúng ta.
Thật vậy!
Năm 1953, nhóm sinh viên Việt Nam tại Trường ĐH Kim loại màu và Vàng Moskva, Liên Xô đều được phân công học ngành Luyện kim. Chính Nhà trường đã đề xuất cần một người học ngành “Oбогащение полезных ископаемых” (Làm giàu các khoáng sản có ích). Đề xuất này được phía Việt Nam nhất trí. “Người được chọn” duy nhất là sinh viên Thái Duy Thẩm.
Năm 1959 tốt nghiệp về nước, KS Thái Duy Thẩm được giao nhiệm vụ xây dựng một bộ môn mới của Khoa Mỏ-Luyện kim, Trường ĐH Bách khoa từ con số "0". Việc đầu tiên là chọn thuật ngữ tên ngành; thuật ngữ Tuyển khoáng nhanh chóng được chọn và được chấp nhận.
“Người được chọn” tiếp theo là KS Luyện kim Khoá 1 Phan Văn Thuận. Là KS mới tốt nghiệp, Anh Thuận đã dám chấp nhận học thêm một ngành mới rồi trở thành giảng viên.
Lớp “Người được chọn” khá đông đảo là 1 trong 2 tổ sinh viên Lớp Luyện kim Khoá 2 vừa bước vào năm thứ 3. Và 14 người của Lớp Tuyển khoáng Khoá 2 tốt nghiệp năm 1961 là sự bổ sung đáng kể cho các cơ sở sản xuất và đào tạo thời kỳ đó.
Cứ như vậy, chúng ta tiếp tục có những lớp Tuyển khoáng Khoá 5, 7, 10, 11, 12, 14, 18, 21, 23,27 vv…; và đến nay là Lớp Tuyển khoáng Khoá 60 trẻ trung.
Có người sẽ nói ngược lại: Có gì lạ đâu! Nếu không phải sinh viên Thái Duy Thẩm, KS. Phan Văn Thuận thì sẽ có người khác được chọn; hai tổ Luyện kim Khoá 2, chọn tổ nào chuyển sang học Tuyển khoáng chẳng được vv…
Nhưng nếu sau vài năm mới có “Người được chọn” cho ngành Tuyển khoáng; nếu Anh Thuận không mạnh dạn học rồi truyền đạt và chia sẻ những kiến thức còn mới mẻ với chính mình cho các sinh viên Khoá 2, có thể ta sẽ chưa có buổi lễ kỷ niệm tròn 50 năm đào tạo của Ngành Tuyển khoáng vào thời điểm này. Và nếu Tổ Luyện kim chỉ toàn sinh viên nam kia được chọn, chúng ta đã không có người nữ KS. Tuyển khoáng đầu tiên là Chị Lưu Thị Liên, mà còn phải chờ đợi mấy năm sau nữa!
Nhưng Lịch sử không có chữ “Nếu”! Ngạn ngữ Pháp đã có câu: “Avec des SI, on mettrait Paris en bouteille” (Với các chữ NẾU, ta có thể cho thành Pari vào một cái chai).
Cao hơn cả, chính là mối Cơ duyên với ngành Tuyển khoáng. Cơ duyên là một khái niệm sâu sắc trong Triết học Phương Đông, dễ cảm nhận mà khó định nghĩa. Cụm từ tiếng Anh: “Predestination, predestined connections” khó diễn tả hết được khái niệm này. Mối Cơ duyên đã quyết định rằng: ở một thời điểm cụ thể, một hoàn cảnh nhất định thì một con người cụ thể sẽ có may mắn được chọn cho một sứ mệnh đã định.
Một trường hợp điển hình là TS Phạm Hữu Giang. Cuối năm 1971, Anh Giang đỗ vào Khoa Xây dựng Mỏ Khoá 16 rồi nhập ngũ. Cuối năm 1973 ra quân nhưng Khoa Xây dựng Mỏ năm đó không tuyển sinh, Anh Giang vào học lớp Tuyển khoáng Khoá 18. Giả sử Anh không được gọi nhập ngũ hoặc thời gian nhập ngũ kéo dài hơn nữa, có thể Anh Giang vẫn học Khoa Xây dựng Mỏ. Và chúng ta sẽ không có NGƯT. TS Tuyển khoáng Phạm Hữu Giang, người đã đảm nhiệm chức trách Trưởng Bộ môn Tuyển khoáng 10 năm trời…
Tất cả chúng ta, những “người được chọn” và cả những người tự chọn ngành những năm sau này đã có cơ duyên với ngành Tuyển khoáng. Trừ một tỷ lệ khá thấp thôi học, chuyển nghề vì những lý do cá nhân (có thể đó chính là những người không có cơ duyên với Ngành) thì đại đa số anh chị em chúng ta đều gắn bó thiết thân với nghề Tuyển khoáng và coi đó là cái Nghiệp của cả cuộc đời mình.
Nhìn lại (hơn) 50 năm qua, Ngành Tuyển khoáng của chúng ta đã trưởng thành vượt bậc. Từ một người thầy đầu tiên, chúng ta đã có 02 Bộ môn Tuyển khoáng ở 02 trường ĐH với 20 giảng viên đều là TS, ThS. Đến nay đã có 05 người được phong học hàm PGS; 1 người là TSKH; 30 người là TS; 90 người là ThS; 2.200 KS; nhiều ngàn Cử nhân Cao đẳng, KTV Tuyển khoáng và Cơ điện-Tuyển khoáng hoạt động trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu-tư vấn thiết kế và sản xuất.
Những người làm công tác đào tạo đã biên soạn bao giáo trình, giảng dạy bao thế hệ sinh viên; rồi những năm sau này lại đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cho Ngành. Nhiều người đã gắn bó suốt đời với bục giảng như PGSTS Nguyễn Bơi, KS Nguyễn Thị Quỳnh Anh, PGSTS Trần Văn Lùng, NGƯT.TS Phạm Hữu Giang (Trường ĐH Mỏ-Địa chất), TS Lê Mai Phương (Trường ĐH Bách khoa), KS Bùi Lai Phát, NGƯT. ThS Phùng Thế Vang (Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh).
Những người làm công tác nghiên cứu-tư vấn thiết kế tại các viện nghiên cứu triển khai đã đi từ những thí nghiệm nghiên cứu tính tuyển đơn lẻ, những bản thiết kế xưởng tuyển khoáng mini mà trưởng thành dần lên. Đến nay có biết bao Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước và cấp Bộ, những Quy hoạch ngành, những Đề án thiết kế các nhà máy tuyển có công suất lớn và công nghệ tuyển phức hợp đã ra đời từ các trung tâm mạnh như: Viện KH và CN Mỏ-Luyện kim, Viện KHCN Mỏ, Cty Tư vấn đầu tư Mỏ và Công nghiệp, Trung tâm Tuyển khoáng Cty Mỏ Incodemic, Viện KH Vật liệu, Viện CN Xạ hiếm…
Đông đảo hơn cả là lực lượng cán bộ Tuyển khoáng và Cơ điện-Tuyển khoáng trải khắp từ Bắc chí Nam từ các cụm sàng, hệ tuyển; các xưởng tuyển quy mô nhỏ và trung bình; các trung tâm kiểm định; các phòng thí nghiệm và xưởng thực nghiệm đến các nhà máy tuyển lớn, hiện đại như các Nhà máy Tuyển than Hòn Gai, Cửa Ông và Vàng Danh; các Nhà máy Tuyển apatit Tằng Loỏng, Cam Đường và Bắc Nhạc Sơn; các Nhà máy tuyển bauxit Tân Rai và Đắc Nông; Nhà máy Tuyển đồng Sin Quyền…
Thật là vinh dự và tự hào xiết bao!
Trong ngày vui này, cho phép tôi được tâm sự đôi điều về bản thân mình. Tôi chính là một “người được chọn” cho Ngành Tuyển khoáng. Hè năm 1962, theo lời khuyên của Nhà văn Văn Linh, tác giả tiểu thuyết nổi tiếng “Mùa hoa dẻ”, tôi dự định thi Khoa Văn, ĐH Tổng hợp để theo đuổi ước mơ trở thành nhà văn, nhà báo. Phút cuối cùng, vì mải chạy theo một “bóng hồng”, tôi lại đăng ký thi Khoa Hoá, ĐH Bách khoa. Năm ấy, số người đỗ vào khoa Hoá quá đông. Cùng nhiều bạn khác, tôi được chuyển sang Khoa Mỏ-Địa chất và được xếp vào Lớp Tuyển khoáng Khoá 7.
Được học các thầy Phan Văn Thuận, Trương Cao Suyền, Nguyễn Bơi, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Đăng Áp; tôi và các bạn học dần dà tìm hiểu, khám phá và cảm thấy thích thú với nghề; tiến tới yêu nghề Tuyển khoáng.
Từ cuối năm 1966 cho tới đầu năm 2005, tôi đã gắn bó với Ngành Tuyển khoáng gần 39 năm trời, coi đó là cái Nghiệp của mình và cũng có những đóng góp nhất định.
Rồi Ông Giời lại run rủi cho tôi thoả mãn phần nào ước mơ thời trai trẻ, tuy không thành nhà văn mà trở thành nhà báo kỹ thuật; là Uỷ viên Ban Biên tập Tạp chí Công nghiệp Mỏ từ 1996 cho đến nay. Những bài báo đăng tạp chí, những báo cáo trong các tuyển tập công trình do tôi biên tập cũng góp phần nhỏ bé vào việc tích luỹ điểm khi xét phong học hàm PGS, bảo vệ Luận án TS và Luận văn ThS cho nhiều đồng nghiệp Tuyển khoáng.
Trong tiến trình Kỷ niệm 50 năm đào tạo của Bộ môn Tuyển khoáng, tôi có 09 bài trong mục Biên niên Tuyển khoáng viết về các nhà Tuyển khoáng tiêu biểu, các lớp Tuyển khoáng Khoá 2, 5 và 7. Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục cộng tác với các đồng nghiệp để viết tiếp về mảng đề tài này.
Đáp lại câu hỏi: “Nếu được chọn lại, bạn có chọn Ngành Tuyển khoáng hay không?”, tôi xin mượn lời câu hát trong ca khúc nổi tiếng Fernando của Ban nhạc ABBA “If I had to do the same again, I would” (Nếu tôi phải làm điều đó một lần nữa, tôi sẵn lòng). Đó chính là tâm nguyện của bản thân tôi và chắc cũng của hầu hết anh chị em Tuyển khoáng chúng ta.
Xin cảm ơn Ban Tổ chức, các vị đại biểu, các bạn và toàn thể đồng nghiệp Tuyển khoáng đã cho phép tôi được phát biểu trong ngày vui hôm nay!
Trần Văn Trạch, Cựu sinh viên Lớp Tuyển khoáng Khoá 7